SeHTF
Chào mừng các bạn ghé thăm Se 2nt
Để dễ dàng trong việc tham khảo ý kiến mọi người thì các bạn cần đọc thông tin về nội quy cũng như là phải có một tài khoản cá nhân trên 4rum. Mong rằng sau một ngày làm việc căng thẳng thì Se2nt sẽ là điểm đến cho các bạn cùng giải toả stress nhé.
Nếu các bạn có vấn đề gì có thể liên hệ qua Yahoo : anhlinh01678914801 và TV để được tư vấn và hỗ trợ.
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Top posting users this month

Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 58 người, vào ngày Wed Aug 02, 2017 7:50 pm

Hoa cúc mùa thu - tiên dược chữa bệnh

Go down

27072010

Bài gửi 

Hoa cúc mùa thu - tiên dược chữa bệnh




Hoa cúc mùa thu - tiên dược chữa bệnh



Cúc vàng
Cúc có khoảng 13.000 loài, là một họ lớn của thực vật học trong đó nhóm Gia cúc có khoảng 100 loại được dùng phổ biến; nhóm Dược cúc dùng làm thuốc với hai vị thường dùng nhất là Bạch cúc (Cúc trắng) và Kim cúc (Cúc vàng).

Cúc có khoảng 13.000 loài, là một họ lớn của thực vật học trong đó nhóm Gia cúc có khoảng 100 loại được dùng phổ biến; nhóm Dược cúc dùng làm thuốc với hai vị thường dùng nhất là Bạch cúc (Cúc trắng) và Kim cúc (Cúc vàng). Tên khoa học Cúc trắng: Chrysanthemum sinense Sabine. Cúc vàng: Chrysanthemum Indicum Lour họ Cúc Compositae; tên vị thuốc là Flos chrysanthem. Thần nông bản thảo xếp Cúc vào nhóm Thượng phẩm thuộc tiên dược vì chúng có tính năng công dụng tốt lành, không gây độc hại cho người.
Cúc nói chung tính vị ngọt, cay, vào 3 kinh phế, can, thận; có tác dụng dưỡng âm, ích can, tán phong thấp, thanh đầu mục, giáng hoả, giải độc. Cúc trắng vị ngọt nhiều hơn đắng, tính hơi hàn, thiên về khí phế. Cúc vàng vị cay đắng nhiều hơn ngọt, tính hơi ôn, thiên về can huyết.
Theo Mậu hy ung: “Cúc hoa là yếu dược (thuốc trọng yếu) để khu phong. Chất đắng hay tiết nhiệt đi vào tâm - tiểu tràng; chất ngọt ích huyết giải độc đi vào tỳ vị; tính bình cay hay tán kết đi vào can đởm và phế đại tràng, do đó Cúc hoa chữa được các chứng phong vào đầu làm choáng váng; xây xẩm; mắt bị đau nhức; chảy nước mắt sống; da thịt tê không biết đau. Đó là thuốc của thần tiên”
Từ - Hồi - Khê: “Phàm những vật có hương thơm đều chữa được các chứng bệnh ở đầu, mắt, ngoài da, nhưng chúng hay gây táo nhiệt, duy chỉ có Cam cúc (Cúc trắng) không gây táo nên dùng chữa các chứng phong ở đầu mắt rất hay”.
Lý Sĩ Tài nói: “Hoa cúc hình tròn, nâng cao phẩm giá ngụ ý đạo đức của trời cao trong sáng, hoa Cúc vàng mang sắc thái của đất. Hoa cúc trồng sớm, nở muộn là đức của đấng trượng phu; nó nở vào mùa sương tuyết hiểm nguy tượng trưng cho đức kiên trinh. Vị của nó hoà mà nhẹ phảng phất món ăn tiên giới đó chính là loại thuốc quý”
Sách Trung Quốc ghi chuyện: Nhà thơ Triệu Sư Tú đời Tống dạo chơi trên cánh đồng hoa, ông nảy bao ý thơ trong đầu nhưng không có gì để ghi. Về đến nhà, ông không sao nhớ lại nên vô cùng trăn trở, tình trạng ấy kéo dài làm ông lâm bệnh. Các bạn thơ của ông mời một đạo sĩ đến chữa bệnh cho ông; ông được chẩn đoán can dương vượng hoả động thần minh. Các triệu chứng kết lại thành chứng phong huyền, mất ngủ, đầu căng, mắt đỏ, tai ù hay cáu giận. Cách điều trị chỉ là hoa Cúc phơi khô, tán nhuyễn, chưng trong nồi cơm để uống. Đơn giản có vậy mà bệnh khỏi. Về sau, phương thuốc này được phát huy, chữa khỏi nhiều bệnh.
Theo Tây y: Cúc hoa chứa tinh dầu thơm, các vitamin A, B, một số amin và nhiều nguyên tố vi lượng, trong đó đáng chú ý có selen - một nguyên tố thần diệu khử gốc tự do điển hình chống oxy hoá, chống lão hoá và crom là chất phân giải và bài tiết cholesterol phòng chống các bệnh tim mạch.

Một số bài thuốc tiêu biểu
* Nhóm thuốc trường xuân bất lão
- Đan trưởng thọ: Mầm cúc tháng 3 âm lịch, lá tháng 6, hoa tháng 9, gốc rễ tháng 12, lượng bằng nhau. Phơi âm can, tán bột hoàn bằng hạt Đậu xanh. Uống bột thì mỗi lần 5g với nước ấm, uống hoàn 10 - 15g, ngày 2 lần lúc đói.
- Cúc hoa tiên tửu: Dùng hoa Cúc tháng 8, 9, nấu lấy nước cốt để thổi cơm nếp làm rượu. Cất rượu vào bình kín dùng dần; muốn tốt hơn thì trong nước thổi cơm nên gia thêm nước cốt củ Sinh địa, Đương quy, Câu kỳ tử, và một số vị thuốc bổ khác thì công hiệu càng cao. Chữa được những chứng đầu phong quay quắt, đau nhức, chóng mặt tối sầm; nó còn có thể làm cho đầu óc sáng suốt, mắt tinh, tai tỏ, chữa các chứng đờm tê bại và các chứng bệnh của tuổi già: thân thể gày còm ốm yếu, chảy nước mắt sống, nhiều dử, mắt kéo màng rộng; nó còn làm cho sức lực dồi dào, ăn ngon ngủ dễ, người khỏe mạnh ít bị mắc bệnh, sống lâu. Trong Cổ phương Kỷ Cúc Địa hoàng hoàn đã được sản xuất đại trà.




* Thuốc thanh đầu mục (nhẹ đầu, sáng mắt)

Chữa chứng đau đầu kèm mắt đỏ do thời tiết nắng gắt gây cảm mạo do hoả bốc, đó là sở trường của hoa Cúc.
- Hoa cúc 30g, Kim ngân hoa 20g, lá Dâu nuôi tằm 15g. Trộn đều, khi dùng chia 6 phần, dùng 6 lần trong ngày, hãm nước thật sôi, uống nóng, cách nhau 2 - 3 giờ.
- Cúc hoa tươi mới hái về, sắc nước cô lại thành cao với Mật ong, mỗi lần 15 g, hoà nước ấm để uống.
- Gối Hoa cúc: Hoa cúc 2 kg phơi khô, cho vào ruột gối thay bông gối đầu để nhẹ đầu, sáng mắt.
Phòng chữa các bệnh mắt
- Ban đậu chạy vào mắt sinh màng mộng: Bạch cúc hoa, Cốc tinh thảo, vỏ Đậu xanh, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 4g với một quả Thị, một chén cơm nếp nấu cho đến khi cơm chín thì ăn hết. Ngày ăn 3 quả, bệnh nhẹ thì ăn 5 đến 7 ngày, bệnh nặng thì nửa tháng.
- Mắt kém, chống mỏi mắt: Hoa cúc 50g, hạt quả Đậu chín 30g, chia 3 - 5 lần, hãm với nước sôi uống trong ngày.
- Mắt đỏ nhức kéo màng chảy nước mắt sống: Hoa cúc tươi 50g, cho vào cối sạch giã nhuyễn với nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước uống làm hai lần
* Bệnh tim mạch
- Chữa cao huyết áp: Hoa cúc 10g, hoa Hòe 6g, Thảo quyết minh 10g. Trộn đều cả ba rồi chia làm 3 lần uống trong ngày bằng cách hãm nước thật sôi.
- Bệnh mạch vành: Sắc 300g hoa Cúc, lấy nước cô thành cao. Mỗi lần uống khoảng 20 - 25ml ngày 2 lần trong 2 tháng.
- Mỡ máu cao, béo phì: Hoa cúc, Sơn tra phiến, Thảo quyết minh, mỗi vị 15g, trộn đều. Mỗi lần dùng 15g, ngày 3 lần. Sắc hoặc hãm nước thật sôi trong 10 - 15 phút để uống.
* Trong dược thiện
: Hoa, búp lá non, thân non, dùng làm thức ăn sống hoặc nấu chín thành canh cháo để phòng chữa các bệnh trên. Dược phẩm Cúc dạng rượu có thể hoà vào nước cơm cháo cho người không uống được rượu.
* Làm thuốc tắm rửa
Dùng hoa cúc tươi hoặc khô hoặc lá, thân, rễ, ngâm vào nước sôi, hoà vào nước tắm để phòng chữa các bệnh ngứa mẩn ngoài da. Người Nhật trọng dụng Cúc để ngâm mình, đắp lên mặt 20- 30 phút trong bồn tắm, họ tin với cách tắm này sẽ trường thọ.
* Thuốc đeo lấy hương
Trong một số bệnh như huyết áp cao, đau đầu, mất ngủ, tim loạn nhịp, viêm tuyến sữa, dùng một số hương liệu cho vào túi vải đeo vào người. Ví dụ chữa huyết áp cao: Dùng hoa Cúc, Hạ khô thảo, Thạch xương bồ, mỗi thứ một ít, tán nhỏ cho vào túi và đeo vào cổ, ba ngày thay một lần.
u Cấm kỵ: Theo Bản thảo kinh tập chú: Không dùng cùng với vỏ lụa trắng của rễ cây Dâu, rễ Câu kỷ, Truật. Theo Bản thảo hối ngôn: Người bị tỳ vị hư hàn, đau dạ dày, biếng ăn, đi lỏng, không dùng, nếu buộc phải dùng thì dùng ít.
Trà Sâm cúc của Công ty Đông dược Bảo Long được phát triển từ cổ phương (dùng Kim cúc làm chủ dược cùng với Thảo quyết minh, Mạch môn, Hoàng kỳ và một số vị thuốc bổ khác). Học viện Quân y đã dùng trà Sâm cúc cho bộ đội và có những nhận xét đáng khích lệ.
* Điều đặc biệt chú ý:
Do hấp thụ được “khí thu” “sương thu”, “tiết thu” Cúc mới có tính dược đặc trưng, vì vậy để làm thuốc, theo dược lý Đông y thì không thể thay thế các vị Thu cúc bằng các loại dược Cúc khác.

“Hoa thu giữ sắc xuân bền
Cho mãi mắt biếc in nền trời thu”



Hoàng Nhẫn Đông _ Tạp chí cây thuốc quý số 24





Những gì tốt nhất chỉ có tại Se 2NT:

-------------------------------------------------------------------------------
LÆ°u ý các bạn tham gia: Chỉ các Link có sá»± đảm bảo của Se S2T má»›i có sá»± há»— trợ từ BQT khi phần mềm có sá»± cố. Hiện nay thì chỉ má»™️t số ít phần mềm ở Se S2T được mang tem này Ä‘a số các link sá»­ dụng link tại site chủ bài do vậy việc há»— trợ này chỉ áp dụng cho thành viên có từ 10 bài viết trở lên áp dụng cho mọi phần mềm.

[You must be registered and logged in to see this link.]
.


[You must be registered and logged in to see this link.]
avatar
Admin
Chủ Tịch Se S2T
Chủ Tịch Se S2T

Nam Con Giáp : Scorpio
Tuổi giáp Trung Hoa : Horse
Tổng số bài gửi : 1481
Điểm Se S2T : 88055
Sinh Nhật : 03/11/1990
Tham gia ngày : 27/08/2009
Tuổi : 27
Đến từ : Đồng Há»›i City
Sở thích : Máy tính, Soft, AV....
Tính hài hước : Bình thường

Huy chương
Sức mạnh:
100/100  (100/100)
Điểm SeS2T:
50/50  (50/50)

Về Đầu Trang Go down

Share this post on: diggdeliciousredditstumbleuponslashdotyahoogooglelive

Hoa cúc mùa thu - tiên dược chữa bệnh :: Comments

avatar

Bài gửi on Tue Jul 27, 2010 1:20 pm by Admin

Các loại hoa cúc chữa bệnh


Để chữa đau đầu, lấy hoa cúc bách nhật, lá mùi tây (ngò tây) mỗi vị 5 g; Ngải cứu 10 g; lá chanh, Hương nhu mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang, dùng trong 5 ngày liền.
Các bài thuốc từ Cúc bách nhật
Là loại cây thân thảo, sống lâu năm, trên thân phủ lông mềm, cao 25-55cm. Lá mọc đối, hình bầu dục. Hoa màu đỏ tía, họp thành khóm, dày đặc, dáng hình cầu. Theo Đông y, cúc bách nhật vị ngọt hơi chát, tính bình, tác dụng khử đờm, bình suyễn, tiêu viêm, chống ho. Nó được dùng chữa hen phế quản, viêm phế quản cấp hay mạn, ho gà, lao phổi, ho ra máu, đau mắt, đau đầu, chữa sốt ở trẻ em, khóc thét về đêm, lỵ. Liều dùng 9-18g, dạng sắc.
Hen phế quản: Hoa Cúc bách nhật, Tỳ bà điệp (lá nhót), Bảy lá một hoa mỗi vị 6 g, quả nhót 10 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml nước thuốc sắc. Dùng 3 ngày liền.
Trẻ em khóc đêm: Hoa cúc bách nhật 5 g, xác Ve sầu 3 g, Cúc hoa 2 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 300 ml, uống 3 ngày.

Bạch cúc
Bạch cúc tức là cúc hoa trắng, là loại thân thảo, mọc thành bụi cao 60-90cm. Lá hình xoắn. Ra hoa vào tháng 9-11 hằng năm.
Theo Đông y, Bạch cúc vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn, tác dụng tán phong thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt, chữa phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, tăng huyết áp, chóng mặt nhức đầu, mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt. Liều dùng thông thường dưới dạng thuốc sắc là 9-15 g. Có thể dùng tươi: giã nhỏ đắp vào chỗ đau hay mụn nhọt, ghẻ lở.
Tăng huyết áp: Bạch cúc 10 g, Hoa hòe 8 g, Lạc nhân (đậu phộng) 3 g. Sắc uống ngày một thang, uống trong 10 ngày liền.
Hoa mắt chóng mặt: Bạch cúc, hoa Thiên lý mỗi vị 10 g, Ngải cứu 12 g; Rau má, lá Đinh lăng mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 5 ngày.
Đau đầu: Bạch cúc 9 g, Hoa nhài 3 g, Rau má 10 g, Cúc bách nhật 5 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống liền 3-5 ngày.

Kim cúc
Kim cúc còn gọi là cúc hoa vàng hay hoàng cúc; là loại cây thân thảo cao 0,8-1 m, chia nhiều cành nơi gần ngọn. Hoa mọc ở ngọn cây thành cụm có khi mọc hoa ở ngọn cành hay nách lá. Quả có mào lông thường vào tháng 10-12 hoặc kéo dài tới tháng 5 năm sau. Bộ phận dùng làm thuốc là quả, hoa kim cúc.
Đông y cho rằng kim cúc vị đắng - cay, tính hơi ôn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ có sưng, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mủ, viêm vú, hoa mắt, huyết áp cao, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều...
Cảm mạo phong nhiệt: Kim cúc 20 g, củ Sắn dây 15 g, lá Dâu tằm 10 g, rễ cây lau 8 g; Bạc hà, Cam thảo mỗi vị 5 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần.
Đinh nhọt: Kim cúc, Bồ công anh mỗi vị 30 g; Từ hoa địa linh 20 g; Kim ngân 6 g. Sắc uống vào lúc đói, ngày một thang chia 3 lần, uống 3 ngày liền.
Viêm tuyến vú: Kim cúc 20 g; Kim ngân hoa, Bồ công anh, Cam thảo mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần cho đến lúc khỏi. Bên ngoài dùng lá Kim cúc cùng hành, muối, giã nhỏ đắp nơi đau ở vú một lần trong ngày.

Cúc mốc
Cúc mốc còn gọi là nguyệt bạch, là loại cây thân gỗ nhỏ, nhiều nhánh, cành non, có lông trắng, cao 0,6-1 m. Hoa mọc ở nách lá, hoa cái mọc xung quanh, hoa lưỡng tính ở giữa. Hoa ra vào mùa xuân và kết quả vào tháng 1-3. Theo y học cổ truyền, cúc mốc vị cay, thơm, tính mát, không độc, làm tan màng nhầy, sáng mắt, trừ uế khí. Nó được dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam và nhiều chứng khác về huyết; chữa sởi, lở, ù tai, trị ho và làm thuốc điều kinh...
Chữa ho: Lá Cúc mốc 15 g, lá Húng chanh 20 g. Sắc uống ngày một thang trong 5 ngày.
Thổ huyết: Lá Cúc mốc 15 g, Cỏ nhọ nồi 5 g, lá Huyết dụ 8 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần. Uống trong 7-10 ngày liền.
Điều kinh: Lá Cúc mốc 20 g, lá Ích mẫu 15 g, Ngải cứu 10 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml.
Đầy hơi: Lá Cúc mốc 15 g, hạt Mít 10 g, vỏ Quýt 8 g, Gừng 3 g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống thuốc lúc nóng.

Cúc vạn thọ
Là loại cây thân thảo mọc đứng cao 0,6-1m, chia nhiều cành. Lá xẻ sâu hình lông chim. Hoa mọc đơn độc hoặc tụ họp, màu vàng hay vàng cam, có đường kính 3-4 cm, cánh hoa nhỏ mỏng. Quả bế có từ 1-2 vẩy ngắn. Bộ phận dùng làm thuốc: hoa, lá, rễ.
Đông y cho rằng cúc vạn thọ vị đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng tiêu viêm, làm long đờm, trị ho. Lá cúc vạn thọ làm mát gan, phổi, giải nhiệt, chữa đau mắt, ho gà, viêm khí quản, viêm miệng, viêm hầu, đau răng; dùng đắp ngoài để trị viêm tuyến mang tai, viêm vú, viêm da mủ. Liều thông thường từ 10-15 g cho dạng thuốc sắc.
Ho gà: Hoa Cúc vạn thọ 15 g, đường phèn 10 g. Sắc lấy 150 ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3-5 ngày.
Đau răng: Hoa Cúc vạn thọ 5 cái, lá Nhãn 5 lá, muối ăn chừng 15 hạt. Rửa sạch giã nhỏ chia 3 phần đều nhau, mỗi lần đặt một phần thuốc vào nơi răng đau. Còn hai phần ngậm thay đổi mỗi lần một phần.
Chữa đau mắt đỏ: Lá Cúc vạn thọ 10 lá, lá Dâu non 10 lá. Rửa sạch cho vào ca đổ nước sôi vào và xông hơi nơi mắt đau, để xa sau gần vì gần quá gây bỏng mắt hoặc sức nóng làm giãn mạch và các mao mạch căng vỡ. Ngày làm một lần trong 2-3 ngày.
Mụn nhọt chưa vỡ: Lá Cúc vạn thọ 10 g, lá Táo ta 15 g, muối ăn 10 hạt. Rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào nơi đau. Ngày thay một lần.

(Sức khoẻ & Đời sống

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết